Lãi suất huy động vẫn neo cao, USD/VND lại giảm: Điều gì đang diễn ra trong hệ thống ngân hàng?

Mặt bằng lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng tiếp tục duy trì ở vùng cao, một số kỳ hạn 6-12 tháng được niêm yết trên 7%/năm và các chương trình ưu đãi có thể đưa mức thực nhận lên trên 9%/năm. Trong khi đó, giá USD tại ngân hàng thương mại đến cuối tháng 8 lại thấp hơn đầu năm, dù tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng gần 2%. Hai diễn biến tưởng như trái chiều thực chất phản ánh hai bài toán khác nhau: nhu cầu vốn VND của hệ thống ngân hàng và cung – cầu ngoại tệ trên thị trường.

Ghi nhận của Thanh Niên ngày 3/9 cho thấy cạnh tranh huy động tiền gửi vẫn mạnh. Một khách hàng được báo dẫn lại nhận mức lãi suất 8,8%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, cao hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với kỳ gửi trước.

Một số chương trình dành cho khách hàng mới còn đưa mức lãi suất thực nhận cao hơn. Cake by VPBank, chẳng hạn, triển khai chương trình cộng thêm 2 điểm phần trăm cho khách gửi tiết kiệm lần đầu, qua đó mức lãi suất với một số kỳ hạn có thể lên khoảng 9,4%/năm nếu đáp ứng đủ điều kiện chương trình.

Tuy nhiên, những mức 9-9,5% được nhân viên ngân hàng hoặc môi giới đăng trên các diễn đàn mà Thanh Niên dẫn lại không nên được coi ngay là biểu lãi suất chính thức của toàn ngân hàng. Muốn xác định lãi suất thực tế phải kiểm tra thêm kỳ hạn, số tiền tối thiểu, đối tượng khách hàng, hình thức gửi, điều kiện không rút trước hạn và thể lệ khuyến mại.

Dữ liệu niêm yết ngày 3/9/2026 cho thấy mức lãi suất phổ biến thấp hơn các mức quảng cáo đặc biệt nói trên nhưng vẫn cao đáng kể.

Theo tổng hợp của VietNamNet:

Ngân hàng

6 tháng

9 tháng

12 tháng

ACB

7,6%

7,7%

7,8%

Sacombank*

7,2%

7,2%

7,5%

LPBank

7,0%

6,9%

7,2%

Bac A Bank

7,05%

7,05%

7,1%

MBV

7,0%

7,0%

7,0%

VCBNeo

7,0%

7,0%

7,0%

Agribank

6,6%

6,6%

6,8%

BIDV

6,6%

6,6%

6,8%

Vietcombank

6,6%

6,6%

6,8%

VietinBank

6,6%

6,6%

6,8%

*Mức Sacombank trong bảng áp dụng theo nhóm tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng trở lên theo dữ liệu được VietNamNet tổng hợp.

Đáng chú ý, Sacombank ngay trong ngày 3/9 tăng lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-36 tháng. Với khoản từ 500 triệu đồng, kỳ hạn 6-11 tháng lên 7,2%/năm, kỳ hạn 12-18 tháng lên 7,5%, còn kỳ hạn 24-36 tháng đạt 7,8%/năm. Đây là bằng chứng rõ hơn về cạnh tranh huy động so với những lời “chào” lãi suất trên mạng xã hội. Động lực lớn nhất là tốc độ tăng tín dụng.

Theo số liệu được VietnamPlus dẫn từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Riêng dư nợ đối với doanh nghiệp trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 53,4% tổng dư nợ.

Trước đó, đến ngày 13/7, dư nợ đã đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm. Trong khi đó, tiền gửi dân cư trong 5 tháng đầu năm tăng khoảng 4,76%. VietnamPlus nhận định tốc độ tín dụng cao hơn tốc độ huy động khoảng 2 điểm phần trăm đã tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản và nhu cầu thu hút tiền gửi.

Không nên so trực tiếp 8,98% tín dụng đến cuối tháng 7 với 4,76% tiền gửi dân cư đến cuối tháng 5 như hai chỉ tiêu cùng thời điểm. Nhưng chuỗi số liệu vẫn cho thấy một xu hướng: tín dụng đang mở rộng nhanh và các ngân hàng cần gia tăng nguồn vốn đầu vào để cân đối tài sản – nguồn vốn.

Đó là lý do lãi suất huy động có thể tăng hoặc duy trì cao ngay cả khi Ngân hàng Nhà nước không chủ động nâng toàn bộ mặt bằng lãi suất chính sách. Không, nếu đó là tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Theo Quyết định 2411/QĐ-NHNN, mức tối đa đối với tiền gửi VND:

  • không kỳ hạn và dưới 1 tháng: 0,5%/năm;

  • từ 1 tháng đến dưới 6 tháng: 4,75%/năm đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

  • từ 6 tháng trở lên: tổ chức tín dụng được tự ấn định trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường.

Đây là một chi tiết rất dễ bị hiểu sai.

Kỳ hạn 6 tháng chính xác không nằm trong nhóm “từ 1 tháng đến dưới 6 tháng”. Vì vậy, một ngân hàng trả 7%, 8% hoặc thậm chí cao hơn ở kỳ hạn 6 tháng không mặc nhiên đồng nghĩa vi phạm trần 4,75%. Ngược lại, nếu một ngân hàng áp dụng 8-9% cho một khoản tiền gửi thông thường kỳ hạn 3 tháng thì đó sẽ là vấn đề pháp lý hoàn toàn khác và phải kiểm tra cấu trúc sản phẩm cũng như cách ngân hàng tính khoản khuyến mại. Trong khi lãi suất VND tăng, diễn biến USD/VND trong tháng 8 khá khác biệt. Cuối tháng 8, Vietcombank niêm yết USD ở mức khoảng: 25.880 đồng/USD mua chuyển khoản – 26.260 đồng/USD bán ra.

Theo Thanh Niên, mức này giảm khoảng 230 đồng/USD trong riêng tháng 8. So với đầu năm, giá USD tại ngân hàng thấp hơn khoảng 120 đồng, tương đương gần 0,5%. Thị trường tự do giảm mạnh hơn. Đến ngày 2/9, Thanh Niên ghi nhận giá khoảng 25.890 đồng mua vào và 26.010 đồng bán ra, trong khi đầu năm có thời điểm USD tự do đứng trên 27.000 đồng.

Như vậy, nếu chỉ nhìn giá USD mà người dân và doanh nghiệp thực sự giao dịch tại các ngân hàng thương mại, đồng USD không tăng tương ứng với mặt bằng lãi suất VND đang đi lên. Nhưng điều đáng chú ý hơn nằm ở tỷ giá trung tâm.

Ngày 3/9/2026, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức:

25.615 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên làm việc gần nhất trước kỳ nghỉ Quốc khánh.

Cuối tháng 8, tỷ giá trung tâm là 25.610 đồng/USD, cao hơn 489 đồng so với đầu năm, tương ứng khoảng 1,9%. Như vậy có một hiện tượng khá rõ:

Tỷ giá trung tâm: tăng gần 2% từ đầu năm.

Giá USD tại một số ngân hàng thương mại: lại thấp hơn khoảng 0,5% so với đầu năm.

Điều này không phải sai lệch dữ liệu. Tỷ giá trung tâm không phải giá mà mọi ngân hàng bắt buộc phải mua bán USD. Nó là mức tham chiếu để xác định phạm vi mà tổ chức tín dụng được phép niêm yết giao dịch USD/VND.

Theo Quyết định 1747/QĐ-NHNN, tỷ giá giao ngay USD/VND của tổ chức tín dụng được phép không được vượt quá ±5% so với tỷ giá trung tâm của ngày giao dịch. NHNN cũng giải thích cơ chế tỷ giá trung tâm được xác định dựa trên nhiều yếu tố, gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến các đồng tiền quốc tế, cân đối kinh tế vĩ mô và mục tiêu chính sách tiền tệ. Với tỷ giá trung tâm ngày 3/9 là 25.615 đồng:

  • mức sàn: khoảng 24.334 đồng/USD;

  • mức trần: khoảng 26.896 đồng/USD.

Trong khi đó, sáng 3/9 Vietcombank bán USD khoảng 26.270 đồng. Giá này thấp hơn trần hơn 600 đồng/USD. Khoảng cách đó tạo cho Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại một “vùng đệm” lớn hơn để ứng phó nếu áp lực USD tăng mạnh trở lại. Cũng cần cập nhật thêm diễn biến sáng 3/9 thay vì dừng ở số liệu cuối tháng 8.

Sau kỳ nghỉ Quốc khánh, Vietcombank tăng giá USD khoảng 10 đồng, niêm yết mua vào quanh 25.860-25.890 đồng và bán ra 26.270 đồng/USD. VietinBank tăng khoảng 15 đồng, trong khi ACB bán ra khoảng 26.250 đồng. Vì vậy, viết rằng “USD đang tiếp tục giảm trong ngày 3/9” sẽ không còn chính xác. Cách thể hiện phù hợp hơn là:

USD ngân hàng đã tăng nhẹ trở lại sáng 3/9, nhưng vẫn thấp hơn mức đầu năm và chưa phản ánh một xu hướng tăng tương ứng với mặt bằng lãi suất huy động VND. Đây là điểm kinh tế quan trọng nhất.

Giả định “lãi suất ngân hàng tăng thì USD cũng phải tăng” không có cơ sở chắc chắn, vì hai mức giá chịu tác động từ những tập hợp biến số khác nhau. Khi tín dụng tăng nhanh, ngân hàng phải bổ sung tiền gửi để đáp ứng nhu cầu cho vay, thanh khoản và các tỷ lệ an toàn.

Ngân hàng nào cần vốn nhiều hoặc muốn kéo dài kỳ hạn nguồn vốn có thể phải tăng lãi suất mạnh hơn các đối thủ. Do đó, cuộc đua lãi suất hiện nay phần lớn là vấn đề giá vốn của ngân hàng trong nước. USD/VND còn chịu tác động của:

  • xuất khẩu và nhập khẩu;

  • dòng vốn FDI;

  • kiều hối;

  • dòng vốn đầu tư tài chính;

  • nhu cầu trả nợ ngoại tệ;

  • giá vàng và nhu cầu ngoại tệ ngoài hệ thống;

  • diễn biến USD quốc tế;

  • chính sách của Fed;

  • hoạt động điều hành và can thiệp của Ngân hàng Nhà nước.

Thanh Niên dẫn phân tích của VCBS cho rằng FDI giải ngân và xuất khẩu tiếp tục là các yếu tố hỗ trợ nguồn cung ngoại tệ cho Việt Nam. Việc giá vàng thế giới giảm ở một số giai đoạn cũng có thể làm giảm nhu cầu USD trên thị trường tự do.

Do đó, ngân hàng có thể đồng thời trả lãi VND cao hơn để huy động vốn nhưng lại không phải nâng giá USD nếu nguồn cung ngoại tệ đủ tốt. Nếu bỏ qua các yếu tố khác, lợi suất VND cao hơn làm tăng chi phí cơ hội của việc chuyển từ VND sang nắm giữ USD. Điều này đặc biệt đáng chú ý vì quy định hiện hành đối với tiền gửi USD tại tổ chức tín dụng vẫn rất chặt.

Theo Quyết định 2410/QĐ-NHNN, lãi suất tối đa đối với tiền gửi USD của cả tổ chức và cá nhân là: 0%/năm. Trong khi tiền gửi USD tại ngân hàng không sinh lãi, tiền gửi VND kỳ hạn 6-12 tháng có thể đạt 6,5-8%/năm, thậm chí cao hơn nếu đủ điều kiện ưu đãi. Chênh lệch này không bảo đảm VND sẽ tăng giá, bởi người nắm USD còn kỳ vọng vào mức tăng tỷ giá. Nhưng nó tạo ra một “chi phí cơ hội” đáng kể khi chuyển vốn từ VND sang USD.

Đây là một trong những cơ chế giúp giải thích vì sao mặt bằng lãi suất VND cao không nhất thiết tạo áp lực tăng giá USD; trong một số điều kiện, nó còn góp phần hỗ trợ nhu cầu nắm giữ VND. Điểm đáng quan tâm không nên dừng ở USD/VND.

Khi ngân hàng huy động vốn ở mức 7-8%/năm, chi phí đầu vào tăng. Để duy trì biên lãi, tổ chức tín dụng khó có thể giảm mạnh lãi suất cho vay một cách bền vững nếu không có nguồn vốn rẻ khác hoặc chấp nhận giảm biên lợi nhuận. Vì vậy, nếu cuộc đua huy động kéo dài, nó có thể tạo ba áp lực:

Thứ nhất, chi phí cho vay. Doanh nghiệp có thể khó tiếp cận mức lãi suất thấp hơn nếu chi phí huy động của ngân hàng tiếp tục tăng.

Thứ hai, biên lãi ròng của ngân hàng. Nếu lãi suất đầu vào tăng nhanh hơn lãi suất cho vay, NIM có thể bị thu hẹp.

Thứ ba, chính sách tiền tệ. NHNN phải cân bằng giữa mục tiêu cung cấp thanh khoản, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và yêu cầu kiểm soát lạm phát, tỷ giá.

Đây mới là bài toán chính sách phức tạp hơn việc đơn thuần quan sát USD tăng hay giảm. Một sai sót thống kê khác cần tránh là trộn lẫn các loại tỷ giá. Tỷ giá trung tâm từ đầu năm tăng gần 2% có nghĩa mức tham chiếu do NHNN công bố đã dịch chuyển theo hướng USD cao hơn/VND thấp hơn. Trong khi đó, giá USD bán ra ở một số ngân hàng cuối tháng 8 lại thấp hơn đầu năm khoảng 0,5%. Hai con số này đo hai thứ khác nhau, nên không được lấy một con số để phủ định con số còn lại. Tương tự, tỷ giá trên thị trường tự do cũng không nên được dùng như đại diện cho toàn bộ thị trường ngoại hối chính thức. Các chỉ báo có ý nghĩa hơn một phiên tăng giảm riêng lẻ gồm:

Tăng trưởng tín dụng so với tăng trưởng huy động. Nếu khoảng cách tiếp tục lớn, áp lực giữ lãi suất tiền gửi ở mức cao sẽ còn tồn tại.

Lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng. Đây là vùng đang thể hiện cạnh tranh mạnh và không chịu trần 4,75% như các kỳ hạn dưới 6 tháng.

Khoảng cách giá USD ngân hàng với trần ±5%. Nếu khoảng cách thu hẹp nhanh, đó sẽ là chỉ báo rõ hơn về áp lực ngoại tệ.

FDI, xuất nhập khẩu và cán cân thương mại. Đây là những nguồn cung – cầu USD thực tế có tác động trực tiếp tới tỷ giá.

Chính sách Fed. Thanh Niên dẫn phân tích cho rằng khả năng Fed nâng lãi suất trở lại có thể làm USD quốc tế mạnh lên và tạo thêm áp lực lên USD/VND.

Dữ liệu hiện tại cho thấy một bức tranh hai chiều nhưng không mâu thuẫn. Ở thị trường tiền VND, tín dụng tăng nhanh tạo áp lực nguồn vốn, thúc đẩy ngân hàng cạnh tranh tiền gửi. Ngày 3/9, lãi suất niêm yết 6-12 tháng tại nhiều ngân hàng đã ở vùng 7% hoặc cao hơn; ACB lên 7,8% tại 12 tháng, còn Sacombank vừa tăng nhiều kỳ hạn sau kỳ nghỉ lễ. Ở thị trường ngoại hối, giá USD thương mại cuối tháng 8 vẫn thấp hơn đầu năm khoảng 0,5%, dù tỷ giá trung tâm đã tăng gần 2%. Sáng 3/9 USD ngân hàng tăng nhẹ trở lại, Vietcombank bán khoảng 26.270 đồng, nhưng vẫn cách khá xa mức trần 26.896 đồng được phép theo cơ chế ±5%.

Do đó, kết luận rằng “lãi suất cao nhưng USD không tăng là một diễn biến bất thường” là chưa chính xác. Vấn đề đáng theo dõi hơn trong những tháng cuối năm 2026 là liệu tốc độ tín dụng tiếp tục vượt huy động có khiến lãi suất đầu vào duy trì cao, đồng thời Fed và thị trường quốc tế có tạo đủ áp lực để tỷ giá USD/VND tiến gần hơn vùng trần mà NHNN đã chủ động mở rộng hay không.

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Ảnh 1

Tin tức mới nhất