Thịt trâu đông lạnh nhập từ Ấn Độ đang được bán phổ biến 92.000-160.000 đồng mỗi kg, thấp đáng kể so với mức 240.000-300.000 đồng của thịt trâu tươi trong nước. Nguồn cung quy mô lớn và giá cạnh tranh giúp mặt hàng này ngày càng xuất hiện nhiều tại các cửa hàng, quán ăn và cơ sở chế biến.
Khảo sát tại một số điểm kinh doanh thịt nhập khẩu ở TP HCM ngày 25/8 cho thấy bắp trâu Ấn Độ có giá khoảng 160.000 đồng/kg, thăn 156.000 đồng, nạc vai khoảng 129.000 đồng. Một số phần khác có giá từ khoảng 92.000 đồng/kg. Trong khi đó, thịt trâu tươi Việt Nam phổ biến 240.000-300.000 đồng/kg, còn bắp hoa, nạm gầu loại ngon có thể lên 380.000-480.000 đồng.
Do khác nhau về phần thịt, chất lượng, trạng thái đông lạnh hay tươi và kênh bán hàng, không nên lấy một mức giá đơn lẻ để kết luận mọi loại thịt trâu Ấn Độ đều rẻ chính xác 50%. Tuy nhiên, số liệu khảo sát cho thấy khoảng cách giá đủ lớn để hàng nhập khẩu có lợi thế rõ rệt ở phân khúc nhà hàng, quán ăn và cơ sở chế biến.
Ấn Độ có lợi thế nguồn cung lớn
Khoảng cách giá trước hết đến từ quy mô sản xuất.
Theo dữ liệu Bộ Nông nghiệp Mỹ được VnExpress dẫn lại, Ấn Độ dự kiến giết mổ khoảng 42 triệu con trâu và gia súc trong năm 2026, phần lớn là trâu, tạo ra khoảng 4,73 triệu tấn thịt. Lượng thịt trâu dành cho xuất khẩu được dự báo khoảng 1,7 triệu tấn.
Cơ quan Phát triển xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm chế biến Ấn Độ (APEDA) cũng ghi nhận nước này đã xuất khẩu khoảng 1,25 triệu tấn thịt trâu, trị giá 4-5 tỷ USD trong hai năm gần đây. Quy mô chăn nuôi và chế biến lớn giúp chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm thấp hơn, tạo lợi thế khi xuất khẩu sang các thị trường châu Á.
Một số cửa hàng nhập khẩu tại TP HCM cho biết giá thịt trâu Ấn Độ năm nay đã tăng khoảng 15% do nhu cầu và chi phí vận chuyển tăng, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể hàng trong nước. Một cơ sở ghi nhận lượng hàng nhập về tăng khoảng 20%. Đây là số liệu từ từng doanh nghiệp được khảo sát, không đại diện cho toàn bộ thị trường.
Việt Nam nhập gần nửa triệu tấn thịt trong nửa đầu năm
Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 494.300 tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá khoảng 1,46 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập tăng 9,6% nhưng trị giá tăng tới 36,4%.
Giá nhập khẩu bình quân của toàn nhóm đạt khoảng 2,95 USD/kg, tương đương khoảng 77.500 đồng/kg. Đây là giá bình quân của nhiều loại thịt và phụ phẩm khác nhau, không phải giá nhập khẩu riêng của thịt trâu Ấn Độ.
Việc trị giá nhập khẩu tăng 36,4% trong khi khối lượng chỉ tăng 9,6% cũng cho thấy giá trị bình quân trên mỗi kg thịt nhập đã tăng đáng kể so với cùng kỳ. Tính từ hai tốc độ tăng trên, mức giá trị bình quân tăng khoảng 24% so với nửa đầu năm 2025. Đây là phép tính từ số liệu hải quan, không phải một chỉ tiêu do cơ quan quản lý công bố riêng.
Riêng quý II, Việt Nam nhập 271.100 tấn, trị giá khoảng 810,1 triệu USD. Ấn Độ đứng đầu các thị trường cung cấp xét theo trị giá với 56.600 tấn, tương đương 254,27 triệu USD, tăng 40,9% về lượng và 78,3% về trị giá so với quý II/2025.
Các mặt hàng nhập khẩu không chỉ có thịt trâu mà còn gồm thịt, phụ phẩm gia cầm; phụ phẩm lợn, trâu, bò; thịt lợn, thịt bò và nhiều sản phẩm từ thịt khác. Vì vậy, không nên viết rằng “Việt Nam nhập 494.300 tấn thịt trâu Ấn Độ” – đây là cách diễn giải sai phạm vi thống kê.
Giá thấp không đồng nghĩa hàng nhập khẩu không bảo đảm an toàn
Về mặt pháp lý, giá bán thấp tự thân không phải dấu hiệu để xác định hàng hóa kém chất lượng hay vi phạm.
Theo Luật Thú y, sản phẩm động vật thuộc diện kiểm dịch khi nhập khẩu phải thực hiện thủ tục đăng ký và kiểm dịch theo quy định. Cơ quan thú y căn cứ tình hình dịch bệnh và hệ thống kiểm soát của nước xuất khẩu để xem xét việc nhập khẩu và tổ chức kiểm dịch lô hàng.
Các quy định chuyên ngành về kiểm dịch sản phẩm động vật trên cạn cũng đặt ra yêu cầu đối với thịt nhập khẩu, từ hồ sơ, chứng nhận kiểm dịch của nước xuất khẩu đến kiểm tra vệ sinh thú y tùy từng nhóm sản phẩm và mức độ rủi ro.
Hàng hóa nhập khẩu khi lưu thông tại Việt Nam đồng thời phải tuân thủ quy định về ghi nhãn. Nghị định 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa, được sửa đổi bởi Nghị định 111/2021/NĐ-CP, là một trong những căn cứ điều chỉnh việc thể hiện thông tin đối với hàng nhập khẩu.
Do đó, vấn đề pháp lý không nằm ở việc thịt trâu Ấn Độ rẻ hơn thịt trong nước, mà ở nguồn gốc có hợp pháp hay không, sản phẩm có đáp ứng yêu cầu kiểm dịch và an toàn thực phẩm hay không, và khi bán ra có được cung cấp đúng thông tin về loại thịt, xuất xứ hay không.
Rủi ro phát sinh khi nguồn gốc bị thay đổi khi bán ra thị trường
Khoảng cách giá lớn giữa thịt trâu đông lạnh nhập khẩu và một số sản phẩm đặc sản trong nước tạo ra nguy cơ gian lận nếu người bán cố tình thay đổi thông tin về nguồn gốc hoặc bản chất sản phẩm.
Vụ việc liên quan Vũ Hoàng Hải, được biết đến với tên Hải Sapa TV, là trường hợp đang được cơ quan điều tra làm rõ. Theo thông tin điều tra ban đầu, Công ty Hoàng Nam sử dụng thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ để sản xuất thịt trâu sấy khô tê cay, sau đó sản phẩm được quảng bá, bán với tên gọi liên quan “đặc sản Tây Bắc”. Từ năm 2022 đến 2025, phía phân phối được xác định đã mua khoảng 30 tỷ đồng sản phẩm.
Đây hiện là thông tin điều tra ban đầu, chưa phải phán quyết cuối cùng của tòa án. Không nên từ vụ việc này suy rộng rằng thịt trâu nhập khẩu Ấn Độ nói chung là bất hợp pháp hoặc không bảo đảm an toàn.
Vấn đề cần phân biệt là hàng nhập khẩu hợp pháp với hành vi có thể phát sinh ở khâu chế biến, quảng cáo hoặc bán hàng sau đó.
Áp lực cạnh tranh với sản phẩm trong nước
Với mức bán khoảng 92.000-160.000 đồng/kg, thịt trâu Ấn Độ tạo lợi thế đáng kể về chi phí nguyên liệu cho nhà hàng và cơ sở chế biến so với hàng tươi trong nước.
Tuy nhiên, việc so sánh giá phải đặt trong cùng điều kiện sản phẩm. Thịt đông lạnh nhập khẩu được sản xuất quy mô công nghiệp, bảo quản dài ngày và vận chuyển bằng chuỗi lạnh; thịt trâu Việt Nam được khảo sát chủ yếu là hàng tươi và quy mô chăn nuôi nhỏ hơn. Hai nhóm vì vậy không hoàn toàn đồng nhất về chi phí, đặc tính và phân khúc thị trường.
Điểm đáng chú ý hơn nằm ở tốc độ tăng của nguồn cung nhập khẩu. Trong quý II, lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập từ Ấn Độ tăng hơn 40% so với cùng kỳ. Nếu xu hướng này kéo dài, áp lực cạnh tranh về giá đối với chuỗi chăn nuôi và chế biến trong nước có thể lớn hơn, đặc biệt ở các phân khúc sử dụng nguyên liệu số lượng lớn.








































































