Sáu công ty tài chính tiêu dùng được Tuổi Trẻ thống kê đạt khoảng 3.983 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong nửa đầu năm 2026, tăng 1.071 tỷ đồng, tương đương 36,8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, gần 69% phần lợi nhuận tăng thêm đến từ riêng VietCredit. Trong khi VietCredit ghi nhận hơn 1.050 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, FE Credit chỉ còn khoảng 153 tỷ đồng dù tạo ra lợi nhuận trước dự phòng cao gấp gần 2,7 lần. Chênh lệch này cho thấy cuộc cạnh tranh tài chính tiêu dùng hiện không chỉ được quyết định bởi quy mô cho vay hay doanh thu mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng tài sản và chi phí tín dụng.
Theo thống kê được Tuổi Trẻ công bố ngày 6/9/2026, tổng lợi nhuận trước thuế của sáu doanh nghiệp gồm Home Credit Việt Nam, VietCredit, HD SAISON, Mirae Asset Finance Việt Nam, FE Credit và Mcredit đạt khoảng 3.983 tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm. Cùng kỳ năm 2025, nhóm này tạo ra khoảng 2.912 tỷ đồng. Như vậy phần lợi nhuận tăng thêm là khoảng 1.071 tỷ đồng, tương ứng 36,8%.
Đây là điểm cần diễn đạt chính xác: 36,8% là mức tăng của sáu doanh nghiệp được lựa chọn để thống kê, không phải mức tăng lợi nhuận của toàn bộ hệ thống công ty tài chính tại Việt Nam. Một số công ty tài chính khác như EVN Finance không nằm trong phép tính này. Vì thế không nên chuyển câu “lợi nhuận sáu công ty tăng 37%” thành “lợi nhuận ngành tài chính tiêu dùng tăng 37%”.
Bảng lợi nhuận trước thuế cho thấy sự phân hóa khá lớn:
| Doanh nghiệp | LNTT 6 tháng 2026 | Thay đổi so với cùng kỳ |
| Home Credit Việt Nam | ~1.680 tỷ đồng | +15,2% |
| VietCredit | ~1.055 tỷ đồng | +232% |
| HD SAISON | ~804 tỷ đồng | +13,4% |
| Mirae Asset Finance VN | ~191 tỷ đồng | +91% |
| FE Credit | ~153 tỷ đồng | -42,8% |
| Mcredit | ~100 tỷ đồng | khoảng +67% |
| Tổng | ~3.983 tỷ đồng | +36,8% |
Tuổi Trẻ sử dụng số liệu khoảng 1.055 tỷ đồng của VietCredit từ báo cáo bán niên sau soát xét. Trước đó, báo cáo quý II chưa soát xét của doanh nghiệp ghi nhận 1.049,3 tỷ đồng. Đây là lý do các bài báo công bố trong tháng 7 và các bài sau thời điểm soát xét tháng 8 có thể chênh nhau vài tỷ đồng; khi đánh giá tại thời điểm hiện nay nên ưu tiên báo cáo bán niên đã soát xét. Nếu xét quy mô lợi nhuận tuyệt đối, Home Credit Việt Nam mới là công ty đứng đầu nhóm, với gần 1.680 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế.
Home Credit báo lợi nhuận sau thuế khoảng 1.343-1.344 tỷ đồng, tăng khoảng 15% so với cùng kỳ. Cuối tháng 6, vốn chủ sở hữu đạt khoảng 9.755 tỷ đồng; doanh nghiệp công bố ROE ở mức 13,78%. VietCredit đứng thứ hai về lợi nhuận tuyệt đối, nhưng là doanh nghiệp tạo ra phần tăng trưởng mạnh nhất.
Tính toán VietCredit đóng góp tới 68,8% phần lợi nhuận tăng thêm của cả sáu công ty. Nếu loại VietCredit khỏi phép tính, lợi nhuận năm công ty còn lại chỉ tăng từ khoảng 2.594 tỷ lên 2.928 tỷ đồng, tức 12,9%. Điều đó làm thay đổi đáng kể cách đọc con số 37%. Mức tăng 36,8% nhìn bề ngoài cho thấy một đợt phục hồi rộng của toàn nhóm, nhưng thực tế tăng trưởng đang tập trung rất mạnh vào một doanh nghiệp. Nếu không có sự bứt phá của VietCredit, tốc độ tăng lợi nhuận của phần còn lại chỉ vào khoảng một phần ba con số headline.
Báo cáo bán niên cho thấy dư nợ cho vay khách hàng của VietCredit cuối tháng 6 đạt khoảng 18.211-18.221 tỷ đồng, tăng khoảng 23% so với cuối năm 2025 và cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tổng tài sản đạt khoảng 23.221 tỷ đồng, tăng hơn 30% so với đầu năm. Tăng trưởng tài sản sinh lãi kéo theo thu nhập lãi thuần tăng mạnh. Sáu tháng đầu năm, VietCredit ghi nhận khoảng:
- 3.278 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, hơn ba lần cùng kỳ;
- 2.354 tỷ đồng lợi nhuận trước dự phòng;
- khoảng 1.299 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng;
- khoảng 1.055 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau soát xét.
Có nghĩa cứ 100 đồng lợi nhuận trước dự phòng mà VietCredit tạo ra thì khoảng 55,2 đồng bị hấp thụ bởi chi phí dự phòng, còn khoảng 44,8 đồng chuyển thành lợi nhuận trước thuế. Đây là tỷ lệ cao, nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với FE Credit và Mcredit. Đây là dữ kiện quan trọng nhất để hiểu sự thay đổi giữa FE Credit và VietCredit.
Trong nửa đầu năm 2026, FE Credit ghi nhận doanh thu hơn 10.232 tỷ đồng, tăng 7,7%. Lợi nhuận trước chi phí dự phòng đạt khoảng 6.311 tỷ đồng, tăng hơn 6%. Quy mô lợi nhuận trước dự phòng của FE Credit vì thế cao gấp khoảng 2,7 lần VietCredit:
FE Credit: 6.311 tỷ đồng so với VietCredit: 2.354 tỷ đồng.
Nhưng FE Credit phải ghi nhận 6.158 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, tăng từ mức 5.674 tỷ đồng cùng kỳ.
Dự phòng tương đương khoảng 97,6% lợi nhuận trước dự phòng. Sau bước này, lợi nhuận trước thuế chỉ còn khoảng 153 tỷ đồng, giảm 42,8% so với mức 267 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
100 đồng lợi nhuận trước dự phòng tại FE Credit chỉ còn khoảng 2,4 đồng lợi nhuận trước thuế. Trong khi tại VietCredit, con số tương ứng khoảng 44,8 đồng. Khoảng cách này giải thích phần lớn việc VietCredit có lợi nhuận trước thuế cao gấp gần 7 lần FE Credit, dù FE Credit vẫn tạo ra lượng lợi nhuận trước dự phòng lớn hơn rất nhiều. Nếu chỉ nhìn dòng cuối cùng của báo cáo kết quả kinh doanh:
- VietCredit: khoảng 1.055 tỷ đồng LNTT;
- FE Credit: khoảng 153 tỷ đồng LNTT;
thì có thể cho rằng VietCredit đã vượt xa FE Credit. Nhưng xét hoạt động trước dự phòng, bức tranh đảo ngược:
- FE Credit: 6.311 tỷ đồng;
- VietCredit: 2.354 tỷ đồng.
Điều này cho thấy vấn đề của FE Credit trong kỳ không chủ yếu nằm ở khả năng tạo thu nhập trước rủi ro tín dụng, mà nằm ở lượng chi phí phải dành để xử lý và bao phủ rủi ro tín dụng. Thu nhập lãi thuần nửa đầu năm đạt khoảng 3.100 tỷ đồng, tăng 30%. Lợi nhuận trước dự phòng khoảng 2.282 tỷ đồng, gần ngang mức 2.354 tỷ đồng của VietCredit.
Tuy nhiên, Mcredit ghi nhận 2.182 tỷ đồng chi phí dự phòng, tương đương khoảng 95,6% lợi nhuận trước dự phòng. Kết quả, lợi nhuận trước thuế chỉ còn khoảng 100 tỷ đồng. Tính theo cùng một cơ sở:
- VietCredit giữ lại khoảng 44,8 đồng LNTT trên mỗi 100 đồng lợi nhuận trước dự phòng;
- Mcredit khoảng 4,4 đồng;
- FE Credit khoảng 2,4 đồng.
Chính phép so sánh này cho thấy chất lượng danh mục tín dụng và chi phí tín dụng có thể quan trọng hơn rất nhiều so với quy mô doanh thu. Việc VietCredit vượt FE Credit về lợi nhuận không có nghĩa rủi ro tín dụng của doanh nghiệp này thấp. Ngược lại, dự phòng của VietCredit tăng từ khoảng 325 tỷ đồng lên gần 1.299 tỷ đồng, tức gần gấp 4 lần.
Nợ nhóm 2 – nhóm “nợ cần chú ý” – tăng từ khoảng 989 tỷ đồng cuối năm 2025 lên khoảng 1.530 tỷ đồng cuối tháng 6, tăng 54,7%. Tỷ trọng khoản mục này trong dư nợ được Tuổi Trẻ tính tăng từ khoảng 6,7% lên 8,4%. Báo cáo được dẫn từ số liệu bán niên còn cho thấy nợ xấu tuyệt đối ở mức khoảng 1.376 tỷ đồng, tăng khoảng 35% so với đầu năm.
Nếu dư nợ mở rộng nhanh, số tuyệt đối của nợ xấu và dự phòng có thể cùng tăng ngay cả trong trường hợp hiệu quả kinh doanh vẫn cải thiện. Vì vậy, nhận định rằng “dự phòng tăng gần bốn lần chứng minh chất lượng tín dụng VietCredit xấu đi tương ứng bốn lần” là không chính xác. Chi phí dự phòng chịu tác động đồng thời bởi:
- quy mô tín dụng;
- cơ cấu nhóm nợ;
- chất lượng khoản vay mới;
- tài sản bảo đảm được phép khấu trừ;
- nợ chuyển nhóm;
- khoản nợ được xử lý;
- chính sách và phương pháp dự phòng theo quy định.
Nguồn tổng hợp từ báo cáo bán niên đồng thời nêu:
- nợ xấu tuyệt đối hơn 1.376 tỷ đồng;
- tỷ lệ nợ xấu trên khoản mục cho vay khách hàng khoảng 7,55%;
- một chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu khác được công bố khoảng 6,2%.
Hai tỷ lệ khác nhau có thể xuất phát từ mẫu số tính toán khác nhau trong chỉ tiêu được trình bày. Lấy 1.376 tỷ đồng chia cho khoảng 18.211 tỷ đồng cho vay khách hàng sẽ cho kết quả xấp xỉ 7,56%.
Vì vậy, khi viết báo không nên lấy 6,2% và 7,55% rồi mô tả chúng như hai số liệu mâu thuẫn trực tiếp, cũng không nên tự lựa chọn một tỷ lệ mà bỏ qua phương pháp tính. Cách an toàn hơn là sử dụng số nợ xấu tuyệt đối 1.376 tỷ đồng, đồng thời ghi rõ mẫu số khi trích một tỷ lệ. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận kế toán trong kỳ, nhưng không đồng nghĩa toàn bộ số dự phòng là tiền mặt đã chảy ra khỏi công ty trong cùng kỳ. Về bản chất, dự phòng là khoản được ghi nhận để phản ánh tổn thất tín dụng dự kiến hoặc rủi ro của các tài sản có theo cơ chế pháp luật và kế toán áp dụng.
Các công ty tài chính thuộc nhóm tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo Luật Các tổ chức tín dụng 32/2024/QH15. Luật xác định các loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính tổng hợp và công ty tài chính chuyên ngành. Luật hiện được áp dụng cùng các sửa đổi tại Luật 96/2025/QH15. Việc phân loại tài sản có hiện được thực hiện theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN, đã được sửa đổi bởi Thông tư 37/2025/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 đối với phần sửa đổi. Văn bản áp dụng cho cả ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Còn mức trích và phương pháp trích lập dự phòng được Chính phủ quy định tại Nghị định 86/2024/NĐ-CP, hiện vẫn còn hiệu lực. Đối với tổ chức tín dụng không phải tổ chức tài chính vi mô, Nghị định quy định tỷ lệ dự phòng cụ thể tương ứng:
- nợ nhóm 1 – đủ tiêu chuẩn: 0%;
- nhóm 2 – cần chú ý: 5%;
- nhóm 3 – dưới tiêu chuẩn: 20%;
- nhóm 4 – nghi ngờ: 50%;
- nhóm 5 – có khả năng mất vốn: 100%.
Ngoài dự phòng cụ thể, Nghị định còn quy định dự phòng chung thông thường bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 sau khi loại trừ một số khoản theo quy định. Do đó, chi phí dự phòng lớn không đơn thuần là lựa chọn tùy ý của ban lãnh đạo nhằm “giấu lợi nhuận”. Tổ chức tín dụng chịu khuôn khổ pháp lý cụ thể về phân loại tài sản và mức trích dự phòng. Trong hệ thống phân loại năm nhóm, thông thường nhóm được xác định là nợ xấu là:
- nhóm 3 – nợ dưới tiêu chuẩn;
- nhóm 4 – nợ nghi ngờ;
- nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn.
Vì vậy, việc nợ nhóm 2 của VietCredit tăng lên 1.530 tỷ đồng là một tín hiệu về chất lượng tài sản cần theo dõi, nhưng không được cộng toàn bộ số này vào “nợ xấu”.
Nợ nhóm 2 có ý nghĩa như một vùng cảnh báo sớm: nếu khách hàng phục hồi và trả nợ đúng quy định, khoản vay có thể cải thiện; nếu tiếp tục suy yếu và bị chuyển sang nhóm 3 trở xuống, áp lực dự phòng có thể tăng mạnh.
FE Credit đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2026 khoảng 1.179 tỷ đồng, tăng 93% so với kết quả năm 2025. Sau sáu tháng, mức lợi nhuận khoảng 153 tỷ đồng mới tương đương gần 13% kế hoạch năm. Điều này tạo ra áp lực đáng kể cho nửa cuối năm.
Để hoàn thành kế hoạch, FE Credit không chỉ cần tăng thu nhập mà còn phải cải thiện một biến số quan trọng hơn: chi phí tín dụng. Nếu lợi nhuận trước dự phòng tiếp tục ở mức cao nhưng dự phòng vẫn hấp thụ gần 98%, tăng trưởng doanh thu sẽ khó chuyển hóa thành lợi nhuận cuối cùng.
VietCredit đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 2.400 tỷ đồng năm 2026. Với khoảng 1.055 tỷ đồng sau sáu tháng, doanh nghiệp mới hoàn thành khoảng 44% kế hoạch. Trong khi đó, dư nợ tăng nhanh, nợ nhóm 2 và nợ xấu tuyệt đối đều tăng. Vì vậy, bài toán sáu tháng cuối năm không chỉ là tiếp tục tăng giải ngân. Nếu không, mức tăng lợi nhuận rất cao của nửa đầu năm có thể không lặp lại với cùng tốc độ. Nếu nhìn lại cấu trúc lợi nhuận hiện tại, có thể chia sáu doanh nghiệp thành ba nhóm.
Nhóm thứ nhất – lợi nhuận lớn và tương đối ổn định: Home Credit và HD SAISON. Home Credit đạt gần 1.680 tỷ đồng, còn HD SAISON hơn 804 tỷ đồng, tăng lần lượt khoảng 15,2% và 13,4%.
Nhóm thứ hai – tăng trưởng rất nhanh nhưng phải theo dõi chất lượng tài sản: VietCredit. Lợi nhuận tăng hơn ba lần, nhưng dự phòng gần 1.300 tỷ đồng, nợ nhóm 2 và nợ xấu tuyệt đối đều tăng mạnh.
Nhóm thứ ba – tạo thu nhập lớn nhưng bị dự phòng hấp thụ: FE Credit và Mcredit. Hai doanh nghiệp lần lượt phải dành khoảng 97,6% và 95,6% lợi nhuận trước dự phòng cho chi phí rủi ro tín dụng.
Mirae Asset Finance Việt Nam nằm ở quy mô lợi nhuận nhỏ hơn nhưng cải thiện tương đối rõ, với khoảng 191 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 91%; tỷ lệ chi phí trên thu nhập cũng giảm so với cùng kỳ. Con số 36,8% cho thấy lợi nhuận của sáu công ty tài chính được thống kê đã phục hồi rõ trong nửa đầu năm 2026, nhưng không nên đọc nó như bằng chứng rằng toàn ngành đang tăng trưởng đồng đều.
Gần 69% phần lợi nhuận tăng thêm đến từ VietCredit. Nếu loại doanh nghiệp này, mức tăng của năm công ty còn lại chỉ khoảng 12,9%. VietCredit đã vượt FE Credit rất xa về lợi nhuận trước thuế, khoảng 1.055 tỷ so với 153 tỷ đồng. Nhưng trước dự phòng, FE Credit vẫn tạo ra 6.311 tỷ đồng, cao gấp gần 2,7 lần VietCredit. Khoảng cách cuối cùng được tạo ra chủ yếu bởi dự phòng:
VietCredit: dự phòng khoảng 1.299/2.354 tỷ đồng lợi nhuận trước dự phòng – 55,2%.
Mcredit: khoảng 2.182/2.282 tỷ đồng – 95,6%.
FE Credit: khoảng 6.158/6.311 tỷ đồng – 97,6%.
Quy mô cho vay quyết định khả năng tạo doanh thu; nhưng chất lượng tín dụng và chi phí dự phòng quyết định bao nhiêu doanh thu cuối cùng trở thành lợi nhuận.
Vì vậy, chưa nên tuyên bố VietCredit đã “thay thế” FE Credit trong toàn bộ thị trường chỉ dựa trên lợi nhuận sáu tháng. Điều có thể khẳng định từ dữ liệu hiện có là thứ hạng lợi nhuận đã thay đổi mạnh, còn khả năng duy trì vị thế sẽ phụ thuộc vào chất lượng các khoản vay mới, diễn biến nợ nhóm 2 và nợ xấu, tốc độ thu hồi nợ và mức dự phòng trong các quý tiếp theo.









































































