UBND TP.HCM ngày 7/9 chính thức cho phép Sở GD&ĐT triển khai thí điểm Chương trình giáo dục tích hợp tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập đủ điều kiện trong thời gian 3 năm kể từ năm học 2026–2027. Việc tham gia phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện và có sự đồng thuận của cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ. Thành phố đồng thời yêu cầu chương trình không vì mục tiêu lợi nhuận, không sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả hoạt động dịch vụ và không được làm ảnh hưởng quyền lợi của những trẻ không tham gia.
Văn bản ngày 7/9 không yêu cầu tất cả trường mầm non công lập trên địa bàn phải mở chương trình ngay trong năm học này.
UBND TP.HCM chỉ cho phép triển khai tại các “cơ sở giáo dục mầm non công lập đủ điều kiện”. Sở GD&ĐT được giao chịu trách nhiệm lựa chọn chương trình, tài liệu, học liệu, đơn vị phối hợp và các trường tham gia, đồng thời kiểm tra và giám sát chất lượng trong suốt quá trình thí điểm. Việc một trường công lập được phép tham gia còn phụ thuộc vào đội ngũ, cơ sở vật chất, học liệu, kế hoạch triển khai và đánh giá của cơ quan quản lý giáo dục.
Thông tư 50/2020/TT-BGDĐT, văn bản pháp lý nền tảng của chương trình, hiện vẫn được Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật ghi nhận là còn hiệu lực, từ ngày 31/3/2021. Văn bản này ban hành “Chương trình làm quen với tiếng Anh dành cho trẻ em mẫu giáo”. Nội dung chương trình phân theo các độ tuổi mẫu giáo 3–4, 4–5 và 5–6 tuổi. Vì vậy, việc gọi đây là chương trình “tiếng Anh ở bậc mầm non” có thể chấp nhận khi nói về cấp học hoặc loại hình trường, nhưng nếu xác định người học thì phải dùng chính xác là trẻ mẫu giáo, không nên tự động mở rộng sang trẻ nhà trẻ dưới 3 tuổi.
UBND TP.HCM yêu cầu việc thí điểm chỉ thực hiện trên cơ sở tự nguyện và có sự đồng thuận của phụ huynh hoặc người chăm sóc trẻ. Đồng thời, trường phải bảo đảm quyền lợi của trẻ không tham gia chương trình.
Thông tư 50/2020 của Bộ GD&ĐT ngay từ đầu đã quy định chương trình chỉ được áp dụng ở cơ sở mầm non đáp ứng điều kiện và có sự tự nguyện của gia đình trẻ. Do đó, về bản chất pháp lý: phụ huynh không đồng ý thì trẻ không phải tham gia; việc không tham gia không được làm giảm quyền tiếp cận Chương trình giáo dục mầm non chính khóa; và nhà trường không thể lấy lý do phần lớn phụ huynh trong lớp đồng ý để biến chương trình dịch vụ thành nội dung bắt buộc cho toàn bộ trẻ.
UBND TP.HCM còn yêu cầu trường phải thông tin đúng và kịp thời về nội dung chương trình, thời lượng, phương thức tổ chức, mức thu và các chi phí liên quan trước và trong quá trình triển khai.
Đây là cơ sở quan trọng để phụ huynh đưa ra sự đồng thuận có thông tin, thay vì chỉ ký vào một phiếu đăng ký mà không biết trẻ học gì, bao nhiêu thời gian và phải trả những khoản nào. Văn bản ngày 7/9 không đưa ra một con số thu tiền áp dụng thống nhất toàn thành phố. UBND TP chỉ xác định ba nguyên tắc: không vì mục tiêu lợi nhuận; không sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả hoạt động dịch vụ; và phải công khai, minh bạch mức thu cùng các khoản chi phí liên quan. Do đó, hiện chưa có căn cứ để nói: “Phụ huynh sẽ phải đóng X đồng/tháng cho chương trình tích hợp tiếng Anh.” Con số cụ thể phải được xác định theo phương án thu – chi của từng mô hình và quy định tài chính áp dụng.
Kế hoạch 5418/KH-SGDĐT trước đó cũng giao bộ phận kế hoạch – tài chính hướng dẫn việc thu, chi tại các trường thí điểm và nghiên cứu điều chỉnh hướng dẫn các khoản thu để bảo đảm có cơ sở thực hiện đúng quy định. Điều này cũng cho thấy khoản thu cho chương trình tích hợp tiếng Anh không nên bị nhập chung với học phí mầm non thông thường. Đây là một hoạt động dịch vụ giáo dục tự nguyện có cơ chế thu – chi riêng.
Chương trình gốc của Bộ GD&ĐT được thiết kế theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”, tập trung vào trải nghiệm, nghe – nói và giao tiếp đơn giản phù hợp với độ tuổi. Mục tiêu là giúp trẻ hứng thú với tiếng Anh, nghe hiểu từ, cụm từ, câu quen thuộc và có những phản hồi đơn giản, chứ không biến tiếng Anh thành ngôn ngữ giảng dạy bắt buộc cho toàn bộ hoạt động ở trường. Kế hoạch 5418 của Sở GD&ĐT TP.HCM phát triển thêm hướng tiếp cận công nghệ và tích hợp, trong đó trẻ có thể được làm quen tiếng Anh thông qua các hoạt động như làm quen với toán và “thế giới quanh em”, sử dụng học liệu số và học liệu tương tác.
Cách tiếp cận này khác với mô hình truyền thống chỉ dành một vài tiết riêng biệt mỗi tuần cho tiếng Anh. Sở từng giải thích mục tiêu là tăng cơ hội sử dụng tiếng Anh trong các hoạt động hằng ngày, thay vì chỉ giới hạn vào hai buổi cố định. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa pháp luật hiện yêu cầu trẻ phải học tiếng Anh năm ngày mỗi tuần.
Thông tư 50 đặt khung tối thiểu là 35 tuần/năm, ít nhất hai hoạt động làm quen tiếng Anh mỗi tuần, mỗi hoạt động khoảng 25–35 phút; cách tổ chức có thể linh hoạt theo điều kiện của trường và khả năng của trẻ. Vì vậy, “tích hợp” nên hiểu là mở rộng môi trường tiếp xúc ngôn ngữ một cách phù hợp, không phải tăng số tiết theo mô hình luyện ngoại ngữ học thuật. UBND TP.HCM yêu cầu rõ rằng thí điểm tiếng Anh không được ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình giáo dục mầm non. Yêu cầu này đặc biệt quan trọng vì thời gian sinh hoạt của trẻ mầm non có giới hạn và mục tiêu giáo dục ở độ tuổi này không chỉ là ngôn ngữ.
Nếu một trường tăng quá nhiều thời lượng tiếng Anh đến mức làm giảm thời gian vận động, vui chơi, phát triển tiếng Việt, kỹ năng xã hội, cảm xúc hoặc các nội dung khác của chương trình mầm non thì việc đó sẽ đi ngược nguyên tắc thí điểm mà UBND TP đặt ra. Thông tư 50 cũng yêu cầu hoạt động tiếng Anh phải phù hợp tâm sinh lý, lấy trẻ làm trung tâm, bảo đảm tính vừa sức và phát triển từ dễ đến khó.
Do đó, hiệu quả của mô hình không nên được đo bằng việc trẻ học được bao nhiêu từ vựng hay học tiếng Anh bao nhiêu giờ, mà phải xem trẻ có hứng thú, giao tiếp tự nhiên, không bị quá tải và vẫn phát triển đầy đủ các mặt khác hay không. Thông tư 50 đặt điều kiện tương đối cụ thể đối với người trực tiếp tổ chức hoạt động. Giáo viên Việt Nam, tùy nền tảng chuyên môn, phải có bằng cao đẳng trở lên thuộc nhóm ngành tiếng Anh kèm đào tạo về nghiệp vụ/phương pháp giáo dục mầm non, hoặc tốt nghiệp giáo dục mầm non và có năng lực tiếng Anh từ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc hoặc tương đương.
Đối với một số nhóm giáo viên tiếng Anh, chương trình bồi dưỡng chuyên môn về nghiệp vụ giáo dục mầm non hoặc phương pháp cho trẻ làm quen tiếng Anh phải tối thiểu 120 tiết, trong đó có ít nhất 45 tiết thực hành tại cơ sở mầm non.
Giáo viên nước ngoài cũng không được miễn điều kiện chuyên môn. Người bản ngữ phải có trình độ từ cao đẳng trở lên, chứng chỉ giảng dạy tiếng Anh được công nhận và bồi dưỡng phương pháp giáo dục mầm non theo yêu cầu. Giáo viên nước ngoài không phải người bản ngữ phải đáp ứng tiêu chuẩn về bằng cấp, chứng chỉ giảng dạy hoặc năng lực ngoại ngữ cùng phần bồi dưỡng mầm non; đồng thời phải đáp ứng các quy định hiện hành về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Vì vậy, việc một trường ký hợp đồng với trung tâm ngoại ngữ có giáo viên nước ngoài không tự động chứng minh chương trình đủ điều kiện. Điều cần kiểm tra là chính người đứng lớp có đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn dành cho hoạt động với trẻ mẫu giáo hay không.
Thông tư 50 quy định tài liệu và học liệu dùng để triển khai Chương trình làm quen tiếng Anh phải được Bộ GD&ĐT thẩm định, phê duyệt theo quy định; cơ sở giáo dục lựa chọn trong những tài liệu đủ điều kiện phù hợp nhu cầu và thực tế triển khai.
UBND TP.HCM ngày 7/9 tiếp tục giao Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm toàn diện trong việc lựa chọn chương trình, tài liệu, học liệu và đơn vị phối hợp cho đợt thí điểm.
Kế hoạch 5418 cũng yêu cầu lựa chọn học liệu theo đúng quy định, ưu tiên học liệu số và tương tác phù hợp với trẻ. Điều này đặc biệt đáng chú ý khi các chương trình tiếng Anh mầm non thường được cung cấp bởi doanh nghiệp giáo dục, trung tâm ngoại ngữ hoặc nền tảng công nghệ. “Có bản quyền quốc tế” hoặc “được sử dụng ở nhiều quốc gia” không thay thế yêu cầu về thủ tục thẩm định và lựa chọn học liệu trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Kế hoạch 5418 định hướng lựa chọn các trường mầm non trực thuộc Sở, trường đạt chuẩn quốc gia, trường đang thực hiện nội dung giáo dục chất lượng cao – tiên tiến – hội nhập quốc tế và trường nằm liền kề trường tiểu học đang triển khai chương trình tích hợp.
Đến ngày 27/3/2026, Công văn 2551/SGDĐT-GDMN tiếp tục yêu cầu các cơ sở đánh giá thực trạng về đội ngũ, cơ sở vật chất, tài liệu và học liệu; những trường đủ điều kiện có thể đề xuất triển khai đại trà trong trường hoặc lựa chọn 1–2 lớp ở mỗi độ tuổi mẫu giáo để thí điểm. Các trường được yêu cầu báo cáo đăng ký triển khai từ năm học 2026–2027 về Sở trước ngày 14/5. Do đó, quyết định ngày 7/9 không phải điểm bắt đầu của toàn bộ quá trình. Có thể chia tiến trình thành: 2025–đầu 2026: xây dựng mô hình, lựa chọn trường và chuẩn bị điều kiện. Từ năm học 2026–2027: UBND TP chính thức cho phép triển khai thí điểm diện rộng hơn tại những trường công lập đủ điều kiện.
Đáng chú ý, văn bản mới của UBND quy định thời gian 3 năm kể từ năm học 2026–2027, trong khi kế hoạch cũ của Sở mang tên giai đoạn 2025–2028 và dự kiến tổng kết vào năm học 2027–2028. Vì văn bản ngày 7/9 là chỉ đạo mới hơn, tiến độ chi tiết của Sở trong thời gian tới cần được theo dõi để xác định cách đồng bộ hai mốc thời gian này. Không nên mặc nhiên sử dụng lịch cũ và nói chương trình chắc chắn kết thúc vào năm học 2027–2028.
Quyết định ngày 7/9 của TP.HCM tập trung vào thí điểm tại cơ sở giáo dục mầm non công lập. Nhưng Thông tư 50/2020 là khung áp dụng chung cho các cơ sở giáo dục mầm non đáp ứng điều kiện; bản thân Thông tư không giới hạn chương trình chỉ ở trường công. Do vậy không thể suy luận ngược rằng sau ngày 7/9, trường mầm non tư thục không được tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen tiếng Anh.
Đúng hơn là: chương trình thí điểm mới của TP.HCM có phạm vi trường công; trường ngoài công lập vẫn chịu các quy định chung của pháp luật giáo dục và Thông tư 50 nếu tổ chức hoạt động làm quen tiếng Anh.
Thông tư 50 quy định việc đánh giá được thực hiện chủ yếu thông qua quan sát trẻ trong hoạt động và tình huống giao tiếp, theo dõi sự tiến bộ về nghe – nói, bước đầu làm quen đọc – viết và mức độ hứng thú. Hoạt động đánh giá phải nhẹ nhàng, thân thiện và mang tính khích lệ. Đây là điểm quan trọng nếu các đơn vị cung cấp chương trình muốn áp dụng hệ thống kiểm tra, chứng chỉ hoặc xếp hạng như với học sinh lớn hơn. Mục tiêu pháp lý của chương trình ở độ tuổi mẫu giáo là làm quen và phát triển giao tiếp, không phải tạo ra cuộc đua điểm số ngoại ngữ từ 3–5 tuổi.
Kế hoạch của Sở có đề cập việc khảo sát năng lực làm quen tiếng Anh để đánh giá tác động của chương trình, nhưng đây là công cụ phục vụ quản lý và tổng kết thí điểm; không đồng nghĩa phải biến trẻ thành đối tượng thi cử định kỳ.
UBND TP giao Sở GD&ĐT hướng dẫn, kiểm tra và giám sát các trường được lựa chọn; hằng năm phải đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện cho UBND TP. Sau ba năm, thành phố sẽ tổng kết ít nhất bốn nhóm vấn đề: chất lượng và hiệu quả giáo dục; mức độ phù hợp đối với trẻ; điều kiện tổ chức thực hiện; và mức độ đồng thuận của phụ huynh, người chăm sóc. Kết quả này mới là cơ sở để UBND TP xem xét giai đoạn tiếp theo.
Vì vậy, việc cho phép thí điểm không đồng nghĩa thành phố đã quyết định nhân rộng vĩnh viễn. Nếu kết quả cho thấy chi phí quá cao, chất lượng không đồng đều, trẻ quá tải hoặc khoảng cách tiếp cận giữa các khu vực quá lớn, mô hình hoàn toàn có thể phải điều chỉnh.
Một trong những mục tiêu của Sở là dùng công nghệ để giúp mở rộng cơ hội tiếp cận tiếng Anh tới những trường xa trung tâm, nơi khó bố trí giáo viên nước ngoài. Trong kế hoạch trước đó, Sở nhấn mạnh học liệu số, học liệu tương tác và giải pháp công nghệ như một phần của mô hình tích hợp. Nhưng công nghệ không tự giải quyết được bất bình đẳng. Một trường muốn triển khai vẫn cần: giáo viên đủ chuẩn; thiết bị nghe nhìn; học liệu phù hợp; khả năng chi trả của gia đình nếu chương trình có thu dịch vụ; và năng lực quản trị của trường.
Chính Công văn 2551 của Sở đã yêu cầu địa phương đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung giáo viên mầm non và huy động nguồn lực xã hội để hỗ trợ triển khai. Vì chương trình ngày 7/9 lại quy định không dùng ngân sách nhà nước chi trả hoạt động dịch vụ, khả năng tiếp cận giữa các nhóm phụ huynh có mức thu nhập khác nhau là một biến số cần theo dõi.
Đây là lý do yêu cầu “không ảnh hưởng quyền lợi trẻ không tham gia” không chỉ là vấn đề thủ tục, mà còn là vấn đề công bằng giáo dục. Năm học 2026–2027, UBND TP.HCM xác định triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2045” phù hợp với từng cấp học. Đối với mầm non, định hướng là cho trẻ mẫu giáo làm quen và thí điểm tích hợp tiếng Anh phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ; ở phổ thông mới từng bước mở rộng dạy một số môn bằng tiếng Anh tại những trường đủ điều kiện.
Mục tiêu dài hạn là tăng môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học, nhưng cách làm ở mẫu giáo không thể giống THCS hay THPT. Với trẻ 3–5 tuổi, trọng tâm vẫn là giao tiếp, trò chơi, trải nghiệm và hình thành hứng thú. Việc sử dụng cụm “tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai” không nên bị hiểu thành yêu cầu ngay lập tức dạy toán, khoa học và toàn bộ sinh hoạt ở trường mầm non bằng tiếng Anh.
Thông tin “TP.HCM thí điểm chương trình tích hợp tiếng Anh ở bậc mầm non trong ba năm từ năm học 2026–2027” là chính xác, nhưng cần kèm theo bốn điều kiện để tránh làm sai bản chất chính sách.
Thứ nhất, đối tượng trực tiếp là trẻ mẫu giáo, không phải toàn bộ trẻ nhà trẻ và mẫu giáo. Khung pháp lý hiện hành là Thông tư 50/2020/TT-BGDĐT, hiện vẫn còn hiệu lực.
Thứ hai, chương trình chỉ thí điểm tại các cơ sở mầm non công lập đủ điều kiện, không bắt buộc mọi trường công phải triển khai. Sở GD&ĐT có trách nhiệm lựa chọn trường, chương trình, học liệu và đối tác.
Thứ ba, phụ huynh phải tự nguyện và đồng thuận. Trường phải công khai nội dung, thời lượng, hình thức tổ chức và mức thu; trẻ không tham gia không được mất quyền lợi hoặc bị ảnh hưởng đến Chương trình giáo dục mầm non chính khóa.
Thứ tư, chương trình không sử dụng ngân sách nhà nước để thanh toán hoạt động dịch vụ và không vì mục tiêu lợi nhuận. Văn bản ngày 7/9 chưa đưa ra một mức phí chung, nên chưa có cơ sở để khẳng định mỗi phụ huynh sẽ phải đóng bao nhiêu.
Vì vậy, vấn đề đáng theo dõi trong ba năm tới không phải chỉ là có bao nhiêu trẻ “được học tiếng Anh sớm”, mà là chất lượng giáo viên, mức phí, thời lượng thực tế, sự chênh lệch giữa các trường và tác động đối với trẻ không tham gia.









































































































