Điện nhập khẩu tăng gần 70%, áp lực trái phiếu bất động sản dồn về cuối năm

Đến ngày 2/9/2026, điện nhập khẩu mới chiếm khoảng 3,5% tổng nguồn điện huy động của Việt Nam nhưng đang tăng nhanh nhằm hỗ trợ cân đối cung–cầu. Trong khi đó, thị trường trái phiếu bất động sản bước vào giai đoạn đáo hạn lớn, với một số doanh nghiệp tiếp tục chậm thanh toán hàng nghìn tỷ đồng.

Điện nhập khẩu tăng nhanh nhưng chưa thể nói Việt Nam phụ thuộc

Trong bảy tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 203,57 tỷ kWh. Riêng điện nhập khẩu đạt 7,21 tỷ kWh, tương đương 3,5% tổng sản lượng. Các nguồn còn lại gồm nhiệt điện than 106,52 tỷ kWh, thủy điện 47,37 tỷ kWh, năng lượng tái tạo 25,96 tỷ kWh và tua-bin khí 16,21 tỷ kWh, theo báo cáo vận hành tháng 7 của EVN. So với cùng kỳ năm 2025, lượng điện nhập khẩu tăng hơn 69%, từ khoảng 4,27 tỷ kWh lên 7,21 tỷ kWh. Như vậy, sản lượng nhập khẩu tăng thêm xấp xỉ 2,94 tỷ kWh; tỷ trọng trong cơ cấu nguồn điện tăng từ khoảng 2,3% lên 3,5%, theo số liệu EVN được báo chí đối chiếu theo cùng kỳ.

Tuy nhiên, cần phân biệt ba khái niệm:

  • 7,21 tỷ kWh là sản lượng điện nhập khẩu, không phải công suất nguồn điện.

  • Báo cáo công khai của EVN chỉ nêu tổng điện nhập khẩu, chưa tách chính thức bao nhiêu kWh từ Lào và bao nhiêu từ Trung Quốc. Vì vậy, không có cơ sở để gán tỷ trọng cụ thể cho từng nước.

  • Với tỷ trọng 3,5%, điện nhập khẩu là nguồn bổ sung có ý nghĩa đối với vận hành hệ thống, đặc biệt tại miền Bắc, nhưng chưa đủ căn cứ để kết luận Việt Nam “phụ thuộc” vào điện nước ngoài.

Năm 2025, công suất điện Việt Nam mua từ Lào vào khoảng 1.600 MW và từ Trung Quốc khoảng 550 MW, tổng cộng hơn 2,4% công suất toàn hệ thống. Trong quý I/2026, sản lượng nhập khẩu đã vượt 2,9 tỷ kWh, chiếm 3,8% nguồn điện huy động. Chính phủ sau đó yêu cầu nghiên cứu thêm các tuyến truyền tải để tăng nhập khẩu về miền Bắc từ năm 2027, theo. Việc tăng nhập khẩu có thể giảm rủi ro thiếu điện trong các giai đoạn phụ tải cao, nhưng cũng làm phát sinh rủi ro về khả năng truyền tải xuyên biên giới, biến động thủy văn tại Lào, độ ổn định của hệ thống liên kết, giá mua điện và nghĩa vụ thanh toán ngoại tệ. Do đó, điện nhập khẩu nên được xem là công cụ bổ sung và điều tiết, không phải phương án thay thế đầu tư nguồn điện và lưới điện trong nước.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất nhập khẩu từ Lào và Trung Quốc đến năm 2030 dự kiến đạt 9.360–12.100 MW, tương đương 4–5,1% tổng công suất nguồn điện. Quy hoạch đồng thời cho phép tăng hoặc đẩy sớm tiến độ nhập khẩu nếu điều kiện thuận lợi và giá thành hợp lý.

Giá nhập khẩu là giá đàm phán, không phải mặc nhiên bằng mức trần

Điều 46 Luật Điện lực số 61/2024/QH15 quy định hoạt động mua bán điện với nước ngoài phải bảo đảm an ninh năng lượng, lợi ích của Nhà nước và người sử dụng điện, đồng thời phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực. Từng dự án xuất, nhập khẩu điện phải được phê duyệt chủ trương trước khi thực hiện; hồ sơ và thủ tục được triển khai theo quy định chi tiết của Bộ Công Thương.

Các mức giá đang được viện dẫn là giá trần để đàm phán, không phải giá thực tế mặc nhiên áp dụng cho mọi hợp đồng:

Nguồn nhập khẩu

Mức giá tối đa

Thủy điện từ Lào

6,95 US cent/kWh

Điện gió từ Lào

6,95 US cent/kWh

Nhiệt điện than từ Lào

7,02 US cent/kWh

Điện từ Trung Quốc qua lưới điện quốc gia

9,3 US cent/kWh

Khung giá điện Lào được quy định tại Quyết định 1007/QĐ-BCT; mức trần đối với điện Trung Quốc được quy định tại Quyết định 1231/QĐ-BCT. Giá hợp đồng cụ thể còn phụ thuộc kết quả đàm phán và các điều khoản về điểm giao nhận, truyền tải, sản lượng, thời hạn và phân bổ rủi ro.

Ba trường hợp chậm thanh toán trái phiếu đáng chú ý

Ở thị trường bất động sản, các công bố của doanh nghiệp gửi Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cho thấy nghĩa vụ chậm thanh toán vẫn tập trung ở một số tổ chức phát hành có vấn đề về dòng tiền.

Doanh nghiệp

Mã trái phiếu

Nghĩa vụ được công bố

Tình trạng

Công ty cổ phần Bông Sen

BSECH2126003

Dư nợ gốc 4.800 tỷ đồng; hơn 3.009 tỷ đồng tiền lãi phải trả trong sáu tháng đầu năm

Chưa thanh toán khoản lãi; doanh nghiệp cho biết tài khoản bị phong tỏa

Công ty TNHH No Va Thảo Điền

NTDCH2227001

Hơn 1.056 tỷ đồng nợ gốc đến hạn

Chưa thanh toán; lý do công bố là chưa thu xếp được nguồn tiền

Công ty cổ phần Hưng Thịnh Land

H79CH2123015 và H79CH2223001

Còn chậm trả tổng cộng hơn 1.420 tỷ đồng tiền gốc

Doanh nghiệp viện dẫn thị trường khó khăn, tín dụng bị thu hẹp và mất cân đối dòng tiền

Số liệu được tổng hợp từ các công bố gửi HNX, không nên cộng cơ học các con số trên thành một khoản “nợ quá hạn” duy nhất, bởi chúng gồm cả dư nợ gốc chưa xác định đã đến hạn, tiền lãi chưa trả và tiền gốc chậm trả, với thời điểm báo cáo khác nhau. Chẳng hạn, 4.800 tỷ đồng của Bông Sen là dư nợ gốc còn tồn tại, trong khi khoản được xác định chưa thanh toán trong kỳ là hơn 3.009 tỷ đồng tiền lãi. Lý do tài khoản bị phong tỏa hoặc chưa thu xếp được vốn có thể giải thích nguyên nhân thực tế, nhưng không tự động làm chấm dứt nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp.

Khoảng 79.000 tỷ đồng trái phiếu bất động sản phải thanh toán trong năm tháng

Theo dữ liệu VIS Rating được Dân trí dẫn lại, khoảng 235.000 tỷ đồng trái phiếu sẽ đáo hạn trong 12 tháng tiếp theo. Riêng giai đoạn tháng 8–12/2026, tổng dòng tiền thanh toán của khối ngân hàng và phi ngân hàng dự kiến gần 175.000 tỷ đồng, tăng khoảng 20% so với cùng kỳ.

Doanh nghiệp bất động sản phải thanh toán khoảng 79.000 tỷ đồng, tăng gần 42% và chiếm khoảng 45% tổng nghĩa vụ của thị trường trong năm tháng này. Áp lực còn đến từ những trái phiếu đáo hạn năm 2024 từng được kéo dài kỳ hạn tối đa hai năm và nay đến hạn trở lại. Các số liệu trên phản ánh quy mô nghĩa vụ đáo hạn, không đồng nghĩa toàn bộ 79.000 tỷ đồng sẽ trở thành nợ xấu hoặc chậm trả. Khả năng thanh toán phụ thuộc vào dòng tiền, tài sản có thể chuyển nhượng, khả năng tái cấp vốn và tình trạng pháp lý dự án của từng doanh nghiệp.

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Ảnh 1

Tin tức mới nhất